THÔNG TIN VỀ HỘI NGHỊ APASL 2013

lượt xem 12,136 lượt xem     Thứ bảy, 23 tháng 05, 2015 14:35

Hội nghị gan mật Châu Á Thái Bình Dương 2013 tổ chức tại Singapore từ ngày 6-10/2013. Hội nghị lần này có sự tham gia của nhiều giáo sư, chuyên gia trong lĩnh vực gan mật từ khắp nơi trên thế giới như G.Foster, H.Janssen, S.G.Lim, P.Marcellin, C.L.Lai, J.H.Kao, T.Piratvisuth ...

Bộ trưởng Bộ Y tế Singapore đọc diễn văn khai mạc hội nghị


1. Viêm gan B mạn:

  • C.L. Lai, GR. Foster, T.Piratvisuth...Treatment of Chronic Hepatitis B: The Past, the present and the Future; Improving outcomes in chronic hepatitis B: from clinical data to clinical practice ...
  • Kết quả nghiên cứu cho thấy Tenofovir điều trị 6 năm tỉ lệ kháng thuốc 0%, Entecavir dùng 5 năm tỉ lệ kháng thuốc 1.2%.
    - Besifovir là một NA đã thử nghiệm phase II cho thấy giảm HBV-DNA 4 log sau 12 tuần điều trị.
    - Viêm gan B mạn HbeAg (+) điều trị Peg-IFN: trong số những bệnh nhân đạt được qHBsAg < 1500 mU/l vào tuần thứ 24 của điều trị, sẽ có 54% chuyển đổi huyết thanh HBeAg và 20% mất HBsAg sau 6 tháng ngưng điều trị.
    - Những bệnh nhân đáp ứng kém với Peg-IFN vào tuần thứ 24 có thể xem xét kéo dài thời gian điều trị 72 tuần.
    - Viêm gan B mạn HbeAg (-) điều trị Peg-IFN: nếu vào tuần thứ 12 mà qHBsAg giảm < 10% và HBV-DNA giảm < 2 log xem xét ngưng điều trị Peg-IFN.
    - Nhiều nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tái phát khá cao sau khi ngưng thuốc NA 20-60 tháng ở những bệnh nhân VGBM HbeAg có chuyển đổi huyết thanh.


2. Viêm gan C mạn:
- Phác đồ 2 thuốc Peg-IFN + Ribavirin điều trị thành công 70-80% bệnh nhân HCV ở Châu Á.
- Phác đồ 3 thuốc Peg-IFN  + Ribavirin + Telaprevir hoặc Boceprevir giúp giải quyết tốt hơn những trường hợp Genotype 1 tái phát hay đáp ứng kém với phác đồ 2 thuốc.
- Thuốc Peg–IFN Lamda thử nghiệm bước đầu cho thấy hiệu quả cao trong điều trị viêm gan C mạn và ít tác dụng phụ so với Peg- IFN Alfa.
- Trong tương lai không xa những thuốc DAAs thế hệ hai (như Danoprevir ...) sẽ thay thế thuốc chích trong điều trị viêm gan C mạn (IFN - free).



3. Xơ gan:
- T. Poynard: Diagnosis and evaluation of cirrhosis.
- Nếu như viêm gan được phân loại mô học theo Metavir thì giai đoạn F4 không phản ánh sự khác biệt trong tiên lượng của xơ gan còn bù và xơ gan mất bù, vì vậy tác giả đề nghị xơ gan khi phân loại kết hợp lâm sàng sẽ có thêm giai đoạn F5 (varices) và F6 ( decompensated) giúp đánh giá tiên lượng rỏ ràng hơn.
- Vai trò của TIP ngày càng lớn hơn trong điều trị biến chứng xơ gan.
- Ức chế beta và thắt tĩnh mạch thực quản giãn giúp giảm biến chứng xuất huyết tiêu hóa, việc chọn lựa phương pháp nào tùy thuộc vào từng giai đoạn bệnh và sự dung nạp của bệnh nhân.



4. Gan nhiễm mỡ không do rượu: NAFLD
- G.C. Farrel : “NASH cirrhosis, current therapeutic options”
NAFLD liên quan đến nhiều bệnh lý khác ngoài gan việc điều trị NAFLD giúp giảm tỉ lệ tử vong do ung thư và bệnh lý tim mạch, cải thiện tỉ lệ xuất hiện mới và tiểu đường nặng, ngăn ngừa xơ gan (do NASH), giảm biến chứng xơ gan... Điều trị hiện tại là thay đổi lối sống, giảm cân, tập thể dục đều đặn, dùng vitamine E 800 mg/ ngày...
- Arun J Sanyal : Đưa ra hệ thống tính điểm NASH (NASH score) từ 0-7 điểm dựa trên 5 thông số tiểu đường, huyết áp, men gan, màu da, triệu chứng khó thở, những bệnh nhân nào có điểm số từ 5-7 điểm có nguy cơ 59-93% NASH.
- NAFLD có thể dẫn đến HCC mà không qua giai đoạn xơ gan.



ThS. BS. Trần Quốc Trung - Bác sĩ Trung tâm Y Khoa Phước An


Thống kê truy cập
Lượt truy cập / ngày: đang tải dữ liệu
Lượt truy cập / tuần: đang tải dữ liệu
Lượt truy cập / tháng: đang tải dữ liệu
Tổng lượt truy cập: đang tải dữ liệu
Số lượt online: đang tải dữ liệu

Back to Top