BÀI BÁO CÁO HỘI NGHỊ “NHỮNG TRIỂN VỌNG TRONG ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG” (APPH 2013) TÂY AN, TRUNG QUỐC NGÀY 13/7/2013

lượt xem 14,232 lượt xem     Thứ bảy, 23 tháng 05, 2015 14:37

Hội nghị bao gồm các chuyên gia hàng đầu các nước châu Á như: Hui Zhuang (Trung Quốc), Jia Horng Kao (Đài Loan), Teerha Piratvisuth (Thái Lan), Jose D. Sollano (Philippines), Soek Siam Tan (Malaysia) , Trương Bá Trung (Việt Nam), Khin Maung Win ( Myanmar) và châu Âu : Thomas Berg (Đức).


Nội dung chính được thảo luận bao gồm :
- Nhắc lại lịch sử thuốc Interferon qua các giai đoạn tiến triển về cấu trúc và hiệu quả.
- Tầm quan trong của việc định lượng HbsAg như là một dấu hiệu cho thấy kiểm soát miễn dịch kéo dài.
- Cách sử dụng HbsAg để tối ưu hóa những quyết định trong lâm sàng chẩn đoán và điều trị viêm gan B mãn.
- Cách sử dụng tiêu chuẩn hướng dẫn đánh giá đáp ứng điều trị (RTG) để tối ưu hóa mức độ thành công của việc điều trị cho từng  cá thể bệnh nhân
- Những điểm nhấn và việc cải thiện trong việc chẩn đoán và điều trị viêm gan siêu vi B mãn qua các Hội nghị Châu Á Thái Bình Dương và Hiệp hội gan Châu Âu ( EASL và APASL)
- Những tiến bộ trong lỉnh vực điều trị viêm gan siêu vi C mãn tính ở khu vực châu Á Thái Bình Dương.
- Tầm quan trọng của việc truy tầm sớm, đưa đến chẩn đoán sớm và điều trị sớm viêm gan siêu vi C mãn.
- Những điểm nhấn và việc cải thiện trong việc chẩn đoán và điều trị viêm gan siêu vi C mãn qua các Hội nghị Châu Á Thái Bình Dương và Hiệp hội gan Châu Âu ( EASL và APASL).
- Việc sử dụng các thuốc kháng siêu vi trực tiếp (DAAs) trong khu vực châu Á Thái Bình Dương trong hiện tại và tương lai.


MỘT SỐ ĐỀ TÀI CẬP NHẬT :


1, HbsAg là yếu tố nguy cơ phân tầng của ung thư gan , các yếu tố nguy cơ của ung thư gan có thể kể :
-Nồng độ HbsAg trong máu càng cao.
-Phái nam.
-Tuổi càng cao.
-Đột biến core promoter của virus viêm gan B.
-Nồng độ HBVDNA càng cao.
-Siêu vi B genotype C.
-Men gan  càng cao.
-Tình trạng của HbeAg.

2, HbsAg dự đoán khả năng tái kích hoạt siêu vi B sau khi  đã  đạt được chuyển huyết thanh HbeAg từ (+) sang (-) : Càng về lâu dài, tỷ lệ bệnh mới cộng dồn của viêm gan B mãn có HbeAg (-) xuất hiện lại càng tăng cao ở nhóm bệnh nhân sau khi đã đạt được chuyển huyết thanh HbeAg (+), khi  nồng độ HbsAg càng cao trong máu, đặc biệt khi qHBsAg > 1000ui/ml sẽ dự đoán một khả năng cao chuyển sang thể viêm gan B mãn  có HbeAg(-), ngay cả  khi bệnh nhân có tải lượng virus thấp, nhưng có genotype B hoặc C.

3, Đối với viêm gan B mãn có HbeAg(+),  Khả năng đạt được kiểm soát miễn dịch 6 tháng sau khi điều trị  được định nghĩa là khả năng HbeAg chuyển âm 6 tháng sau điều trị Peg-Interferon alpha 2A.
Theo  nghiên cứu NEPTUNE Định lượng HbsAg tại thời điểm kết thúc điều trị EOT bằng Peg-Interferon sẽ dự đoán được khả năng đạt được kiểm soát miễn dịch 6 tháng sau khi điều trị  viêm gan siêu vi B :
-Nếu tại EOT mà qHBsAg < 1500UI/ml thì 57 % bệnh nhân đạt được kiểm soát miễn dịch
-Nếu tại EOT mà qHBsAg < 100UI/ml thì 75 % bệnh nhân đạt được kiểm soát miễn dịch
-Nếu tại EOT mà HbeAg đã chuyển âm thì 75 % bệnh nhân đạt được kiểm soát miễn dịch.

4, Định lượngHbsAg giúp phát hiện bệnh nhân không đáp ứng điều trị tốt hơn và sớm hơn  so với định lượng HBVDNA vì vào những tháng đầu của điều trị, HBVDNA đều có thể giảm ở cả hai nhóm bệnh nhân đáp ứng và tái phát. Quan sát dược động học sớm của HbsAg giúp dễ dàng phân biệt bệnh nhân không đáp ứng ( qHBsAg không giảm) và bệnh nhân đáp ứng điều trị (qHBsAg giảm nhanh) .

5, Trong điều trị viêm gan B mãn có HbeAg(-) bằng Peg-interferon alpha 2A, việc định lượng HbsAg vào tuần thứ 12 và 24 sẽ dự đoán được khả năng đạt được đáp ứng kéo dài  ( SVR) :
-Tại tuần thứ 12 nếu qHBsAg giảm hơn 10 % mức ban đầu thì có 47% bệnh nhân có HBVDNA < 4 log sau 1 năm và 23% mất HbsAg sau 5 năm .
-Tại tuần thứ 24 nếu qHBsAg giảm hơn 10 % mức ban đầu thì có 43% bệnh nhân có HBVDNA < 4 log sau 1 năm và 22% mất HbsAg sau 5 năm .

6, Trong thực hành điều trị , định lượng HbsAg thường được thực hiện chung với HBVDNA, nhưng không thay thế xét nghiệm này, định lượng HbsAg cũng giúp cho thái độ điều trị :  đối vơi người có siêu vi B mãn nhóm HbeAg(-), HBVDNA < 2000 UI/ml, men gan bình thường, ta nên thực hiện thêm xét nghiệm HbsAg định lượng . Kết quả nếu:
-HbsAg < 1000 ui/ml thì theo dõi định kỳ mỗi năm.
-HbsAg > 1000 ui/ml thì theo dõi định kỳ mỗi 6 tháng - 1 năm.

7, Trong lỉnh vực điều trị viêm gan siêu vi B mãn cả 2 loại HbeAg (+) và HbeAg(-) trong năm 2013, với khả năng có thể làm mất HbsAg, tức là khả năng hầu như khỏi bệnh, Peg-Interferon alpha 2 A trở thành chọn lựa điều trị đầu tiên. Trong điều trị viêm gan B có HbeAg(+) Nếu như việc dùng Peg- Inter feron  không tạo được chuyển huyết thanh HbeAg , thì khi đó mới áp dụng chọng lựa thứ hai là dùng thuốc uống gồm 1 trong 2 loại : Entecavir hoặc Tenofovir.

8, Làm thế nào để áp dụng điều trị theo hướng dẫn đáp ứng ( RGT- Response guided treament) bệnh viêm gan siêu vi B thể HbeAg(+) bằng Peg-Interferon để đạt tỷ lệ kiểm soát miễn dịch kép dài cao hơn ?
-Theo tác giả Chin  J –Hepatol 2012, ở đối tượng HbeAg(+) chưa điều trị lần nào, sau 48 tuần dùng Peg-Interferon có  5% sạch HbsAg, nếu tiếp tục dùng Peg-in ter feron kéo dài đến 72 tuần sẽ có 20% sạch HbsAg.
-Việc kéo dài điều trị từ 48-72 tuần cũng làm tăng tỷ lệ chuyển huyết thanh HbeAg (+) từ 39% lên 57%.
- Việc kéo dài điều trị Peg-Interferon kèm theo phối hợp thuốc uống NAs  lên đến tuần thứ 96 cũng làm tăng tỷ lệ đáp ứng miễn dịch kéo dài ở nhóm bệnh nhân không có đáp ứng sớm (Non-early –responders) : tức là nhóm có HBVDNA >2000UI/ ml vào thời điểm 6 tháng điều trị . Theo Jdig dis và cộng sự 2013 : Tỷ lệ chuyền huyết thanh HbsAg tại tuần thứ 48 khi điều trị với Peg-interferon và Adefovir là 4%, với Peg-interferon và Lamivudin là 8%. Nhưng tỷ lệ chuyển huyết thanh HbsAg sẽ tăng cao khi điều trị kéo dài sang tuần thứ 96, với Peg-interferon  và adefovir là 24%, với Peg-interferon và lamivudin là 30%.

9, Cách thức điều trị theo hướng dẫn đáp ứng RGT ( Response-guided-Treament ) áp dụng hiện nay:

  

10, Các thuốc  kháng siêu vi tác dụng trực tiếp thế hệ thứ nhất DAAs trong điều trị viêm gan siêu vi C :
-Cả 2 thuốc Telaprevir và Boceprevir đã được chấp thuận tại Mỹ năm 2011, ở Úc lần lượt vào năm 2011, 2012 và New-zealand 2012. Riêng Telaprevir được chấp thuận ở Nhật năm 2011 và Riêng Boceprevir được chấp thuận dùng ở Singapore và Malaysia năm 2012.
-Cả hai thuốc DAAs này đều là thuốc ức chế NS3/4A serine protease. Thuốc được sử dụng phối hợp với phác đồ Peg-Interferon / Ribavirin như là một bộ ba điều trị. Cả hai dều là thuốc uống và được chỉ định cho viêm gan siêu vi C genotype 1 có chức năng gan còn bù. Bệnh nhân có thể là người được điều trị lần đầu hay đã thất bại với điều trị trước đó. Ở châu Á, bộ 3 này thường được áp dụng cho bệnh nhân viêm gan C genotype1 không đáp ứng hoặc đáp ứng kém với điều trị Peg-Interferon-Ribavirin trước đó.

11, Vấn đề Interleukin 28B đa hình trong viêm gan siêu vi C:
Như vậy, đáp ứng kéo dài tăng rỏ đến 82% ở nhóm bệnh nhân  viêm gan siêu vi C có Interleukin 28 B đồng hợp tử trội CC,càng tăng ở nhóm điều trị bộ ba thuốc phối hợp.



Trong điều trị viêm gan c mãn genotype1, dù là người da trắng hay châu Á, tỷ lệ Đáp ứng kéo dài tương tự như nhau ở nhóm đối tượng không đạt được đáp ứng sớm RVR ( HCVRNA dưới ngưởng phát hiện sau 4 tuần điều trị.)

Tác giả: Bác sĩ Hồ Xuân Nghiêm - Trung Tâm y Khoa Phước An


Thống kê truy cập
Lượt truy cập / ngày: đang tải dữ liệu
Lượt truy cập / tuần: đang tải dữ liệu
Lượt truy cập / tháng: đang tải dữ liệu
Tổng lượt truy cập: đang tải dữ liệu
Số lượt online: đang tải dữ liệu

Back to Top